Cách đây hai mươi năm, tôi gặp Thiếu tướng Hồ Văn Sanh (Chú Bảy Sanh, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Mặt trận 979) lần đầu tiên tại “Trại viết Kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội” do Tổng cục Chính trị tổ chức tại Quân khu 9. Trước một vị tướng, tính nhút nhát và có phần sợ sệt trong thằng “trung sĩ tôi” chỉ biết ngắm từ xa người đàn ông tầm thước, tóc đã ngả màu sương. Nhưng rồi bản tính điềm đạm trong cử chỉ, đĩnh đạc từ dáng đi, nhẹ nhàng qua lời nói, nhất là chất hóm hỉnh của chú đã xua tan khoảng cách tướng - lính trong tôi. Từ đó, tôi và chú gặp nhau nhiều hơn, mỗi lần như vậy chú đều dặn rằng phải cố gắng học tập để nâng cao kiến thức, phải rèn luyện để có đủ bản lĩnh vượt qua thử thách, còn muốn theo nghiệp văn chương thì phải đọc nhiều và viết bằng cảm xúc chân thành của bản thân, không giả tạo thì người đọc mới cảm nhận được. Có lần chú lại nói “sự quyết tâm chân chính bao giờ cũng được bù đắp xứng đáng” như kinh nghiệm đã được ông chiêm nghiệm, đúc rút từ những năm quân ngũ và sau này!

leftcenterrightdel
Thiếu tướng Hồ Văn Sanh (phải) và Thiếu tướng Hồ Việt Trung

Qua những lần trò chuyện, tôi biết quê chú ở xã Tân Hoà thuộc thành phố Vĩnh Long. Chú là niềm kỳ vọng của gia đình nên dù cuộc sống cơ cực, thiếu thốn vẫn dành ưu tiên cho chú lên Sài Gòn học chữ và tiếp xúc với nhiều phong trào học sinh, sinh viên thời bấy giờ. Chính môi trường này đã giúp chú giác ngộ tinh thần cách mạng một cách chính chắn, hiểu và tham gia cách mạng bằng trái tim yêu nước và nhiệt huyết tuổi trẻ. Nếu tính tuổi quân của chú thì từ năm 1946 nhưng trước đó chú đã tham gia công tác đoàn thể ở địa phương rồi trở thành bộ đội tỉnh, được đưa đi huấn luyện rồi vào đơn vị chủ lực chiến đấu trên chiến trường miền Tây và cả Đông Nam bộ. Từ đó, cuộc đời chú trải qua chín năm kháng Pháp, mười năm tập kết, mười năm chống Mỹ, và nhiều  năm chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Campuchia. Chính vì hơn bốn mươi năm lăn lộn chiến trường đã thẩm thấu vào chú chất lính đằm sâu. Nó biểu hiện qua tính hài hước trong cách nói của lính trẻ, qua ánh nhìn trìu mến của tình đồng chí đồng đội, qua tấm lòng đầy ắp thương yêu cấp dưới của người chỉ huy.

Đi qua các cuộc chiến tranh đằng đẵng với muôn vàn ác liệt, có vinh quang lẫn đắng chát, đầy ắp niềm vui và không thiếu nỗi buồn, ngẫm lại chú thấy mình may mắn hơn đồng đội - những người vĩnh viễn nằm lại đâu đó trong vạt rừng miền Đông hay trên cánh đồng miền Tây, cả vùng đồi núi trên đất bạn Campuchia - đã không nhìn thấy cảnh đất nước thanh bình, nhân dân tự do xây đời sống mới. Và mỗi khi nghĩ về năm tháng đó, về một thời đồng đội chưa xưa, trong chú Bảy lại trào dâng những tiếng vọng ầm ào như sóng biển, thăm thẳm như trời xanh, vô tận như tháng ngày. Để rồi mạch cảm xúc ấy với biết bao kỷ niệm đau đáu tinh khôi chảy tràn lên trang giấy qua những tập sách, cả tên chú và bút danh Hồng Sa như “Bác Hồ của chúng ta”, “Ân tình theo bước quân đi”, “Chiếc tù và”, “Trăm nhớ ngàn thương”, “Tiếng lòng” v.v... Dẫu chú nói viết trong một tâm thế chỉ dành cho các chiến sĩ trẻ hôm nay đọc chơi cho vui, nhưng người đọc, nhất là những ai đã đi qua chiến tranh đều cảm nhận rất rõ qua từng câu chuyện nhỏ thấp thoáng hình ảnh của mình trong đó. Họ cảm thấy vui với những chi tiết đời thường rất lính, cảm thấy đau nỗi đau chia ly và khóc khi một người lính ngã xuống. Tất cả đó là tiếng lòng thổn thức của một người lính từng xông pha trận mạc, là ân tình oằn nặng của một vị tướng với đồng đội thân yêu...

Hơn bốn mươi năm gắn bó đời mình với binh nghiệp chú Bảy  luôn tự hào vì mình đã làm tròn sứ mệnh của một thanh niên thời đất nước loạn lạc, chiến chinh. Nhưng, trong sâu thẳm trái tim nồng nàn tình cảm ấy vẫn kìm nén một nỗi buồn chưa hề vơi cạn, mà mỗi lần nhắc tới chú lại rưng rưng. Những giọt nước mắt hiếm hoi của tuổi già khi nhớ về  hình ảnh cái đêm tối trời năm ấy chú tranh thủ về thăm ba mẹ giữa vòng kiềm toả của địch. Dù đi rất nhẹ nhưng người cha vẫn nhận ra bước chân con mình, đã hỏi: “Bảy, con về đó hả?”. Vì sao ư? Bởi thời trẻ chú thường hay qua lối xóm chơi đờn ca tài tử, mỗi lần về khuya cha đều ra mở cửa vì sợ mẹ thức giấc. Và cha đã nhớ từng tiếng bước chân của chú. Ba mươi năm đuổi Pháp, đánh Mỹ biền biệt gần như bặt tăm mà chú chỉ về nhà lần duy nhất đó và không còn gặp lại cha mẹ nữa. Tất cả chỉ vì nhiệm vụ chung, còn gia đình xin cất giữ trong tim, để sau này, bản chất ấy tiếp tục hoà trong máu thịt con trai chú Bảy - Thiếu tướng Hồ Việt Trung (Tư Trung, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9).

Không phải riêng tôi mà những ai quen biết, nếu lớn tuổi hơn thì gọi với cái tên thân mật: "Tư Trung", còn nhỏ hơn thì gọi anh hoặc chú Tư Trung - một cách xưng hô gần gũi, thân tình như bản tính vốn có của người miền Tây Nam bộ. Anh là con trai duy nhất của ông Bảy Sanh, sinh sau ngày ông tập kết ra Bắc. Tuổi thơ của anh là những chuỗi ngày chứng kiến Mỹ - nguỵ bắt bớ những ai chúng nghi ngờ “Việt Cộng”; là tàn sát những người dân vô tội ngay trên chính quê hương mình. Và điều tôi muốn nói chính là anh thiếu thốn tình cảm, sự dạy dỗ của người cha ngay từ thủa lọt lòng. Phải chăng vì vậy mà năm 1974, khi đang học lớp 12 ở Vĩnh Long, anh nhận được tin của cha đã tức tốc ngược đường lên miền Đông. Niềm khao khát của người con thiếu vắng tình phụ tử bấy lâu bùng cháy trong anh, tạo cho anh niềm tin và sức mạnh cải trang làm người dân làm rẫy để vượt qua tai mắt địch cho ngày hội ngộ!

Niềm vui đoàn tụ cũng là lúc anh chính thức nhập ngũ vào Văn phòng Cục Chính trị Quân giải phóng Miền. Nhưng chiến tranh vẫn còn đó, máu của bộ đội vẫn còn đổ xuống thấm vào đất đai đồng ruộng, anh không trực tiếp ra trận nhưng cứ thắt thỏm âu lo cho an nguy của cha và đồng đội mỗi khi nghe tin đâu đó xe của “Quân giải phóng” bị vướng mìn. Không lo sao được, đồng đội của cha đi chiến dịch có người vĩnh viễn không về, có người may mắn trở về nhưng không còn lành lặn. Rồi anh nghe đâu đó những trận đánh lớn ở núi Bà Đen hay Chiến dịch Phước Long mà có ba anh tham gia và chiến thắng cứ dồn dập ùa về như thác lũ kéo theo năm cánh quân xốc tới giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước!

Sau giải phóng, anh được cử đi học sĩ quan rồi về công tác ở cơ quan, đơn vị chủ lực, địa phương tiếp tục phục vụ, cống hiến. Ở cương vị nào anh cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhưng cái anh được không phải là những tấm bằng khen hay danh hiệu quyết thắng mà phần thưởng lớn hơn là sự tin tưởng của cấp trên, tín nhiệm của cấp dưới. Đặc biệt, tình cảm đồng chí đồng đội keo sơn bền chặt là nguồn động viên, cổ vũ anh những lúc khó khăn để vượt qua. Hơn bốn mươi năm quân ngũ, anh cảm thấy tự hào vì mình chưa lần nào chùn bước khi nhận một nhiệm vụ mới. Bởi anh luôn đặt mình vào một tâm thế rằng, khi tổ chức phân công thì đã xem xét về trình độ, năng lực, bản lĩnh lãnh đạo, chỉ huy hoàn thành nhiệm vụ thì mới giao. Có lẽ vì vậy mà khi anh làm tham mưu cho Đảng uỷ - Bộ Tư lệnh Quân khu về công tác cán bộ, hầu như chưa anh em nào từ chối nhận nhiệm vụ. Điều này chứng tỏ trước đó anh đã có những giây phút gặp gỡ, trao đổi để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của anh em. Và cũng là để thử đặt mình vào vị trí của anh em thì sẽ quyết định ra sao, lựa chọn con đường nào, có nên đi tiếp hay dừng lại giữa bộn bề lo toan cuộc sống trong một xã hội phát triển mau lẹ hiện nay.

Tôi nghĩ anh Tư Trung đã đi đúng con đường của cha anh ngày trước. Bây giờ, mỗi khi nhìn lại quãng đường binh nghiệp đã qua, anh Tư cảm thấy cuộc đời là chuyến đi mải miết mà trong đó có những điểm dừng nhất định, dù ngắn hay dài. Mỗi điểm dừng là dịp soi rọi lại chính mình để chỉnh sửa, là khám phá bản thân ở một khía cạnh khác, là tiếp thêm nguồn nhiên liệu dồi dào để vững vàng cho chặng đường tiếp nối. Ở anh, tác phong làm việc hình như không có mệnh lệnh mà chỉ có tình cảm từ trái tim chân thành của một người bạn, người anh trong một đại gia đình. Sự chân thành đó không ít lần uốn nắn lại những suy nghĩ lệch lạc, những bước đi sai đường, tạo sự đồng thuận cả cấp trên lẫn cấp dưới, cùng chung lưng đấu cật san sẻ khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Và anh đã đi đến điểm dừng cuối cùng đời quân ngũ bằng tình cảm ấy - một thứ tình cảm nồng nàn như hương vị men say đã được chiết xuất, chắc lọc, kết tinh qua nhiều thời cuộc, từ cha đã truyền sang anh và đóng thành khối trong suốt.

Hai vị tướng như một cuộc đời. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều mới tìm ra cụm từ đó để nói về Thiếu tướng Hồ Văn Sanh và Thiếu tướng Hồ Việt Trung, dẫu biết sẽ có sự chênh lệch, khập khiễng, thậm chí còn gượng ép. Song, với cái nhìn hạn hẹp của mình, tôi cảm nhận ở hai cha con vị tướng này có một tình cảm rất giống nhau. Đó là tình yêu gia đình mãnh liệt và tình đồng chí, đồng đội sâu sắc. Từ đó, nới rộng ra là yêu thương hết thảy những người xung quanh và yêu tha thiết đất nước, quê hương này!

Tuỳ bút: Hồ Kiên Giang