Lê Quốc Văn sinh năm 1965 tại huyện Vũ Thư (Thái Bình), là con của ông Lê An Ninh, 82 tuổi và bà Trần Thị Kim Loan, 75 tuổi. Đầu năm 1983, ông Ninh chuyển về Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long làm công tác nghiên cứu khoa học. Lúc đó, anh Văn đã tốt nghiệp trung học phổ thông (hệ 10/10) nên được ông đưa vào làm ở Viện lúa. Được một thời gian, ông đưa vợ cùng một chị gái, và 2 em của Lê Quốc Văn vào Cần Thơ lập nghiệp, xem đây là quê hương thứ hai.

leftcenterrightdel
 Lê Quốc Văn (phải) trước ngày nhập ngũ.

Cả cuộc đời ông Ninh miệt mài cống hiến cho lĩnh vực nghiên cứu nông nghiệp và vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học - Công nghệ. Chính vì vậy mà ông đặt nhiều kỳ vọng vào một trong bốn người con sẽ theo con đường mà ông đã dành hết tâm huyết, đó là Lê Quốc Văn. Tuy nhiên, công tác ở Viện lúa chưa đầy một năm thì anh tình nguyện lên đường nhập ngũ. Từ ngày nhận giấy báo trúng tuyển, anh luôn động viên mẹ đây là ước mơ, nguyện vọng của anh đã ấp ủ từ lâu. Hai người chú của anh hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phận là cháu anh đâu thể để họ buồn. Ngày tiễn anh nhập ngũ, anh hẹn ba năm sau sẽ gặp lại, sẽ hân hoan bước vào giảng đường đại học khi đã làm tròn trách nhiệm của người thanh niên đối với Tổ quốc!

Mãn khoá huấn luyện ở Sóc Trăng, Lê Quốc Văn cùng đồng đội lên đường làm nghĩa vụ quốc tế, là chiến sĩ trinh sát của Tiểu đoàn Tây Đô đóng quân ở Kông-pông Chnăng... Những ngày tháng trên đất bạn Campuchia, niềm đam mê văn thơ cùng với tâm hồn nhạy cảm của người lính trong Lê Quốc Văn đã khơi dòng và gửi vào quyển “Sổ tay người lính trẻ”. Song, ở nhiều trang viết, anh cẩn thận ghi “Bên dòng Mê-kông” làm tiêu đề cho những dòng suy tưởng. Trang đầu tiên được anh khởi viết vào ngày 8/9/1984 tại thị xã Kông-pông Chnăng: “Ngày hôm nay sao ngoài trời gió đông thổi ầm ầm làm cho dòng sông Mê-kông đang hiền hòa bỗng trở nên hung dữ vô cùng. Tiếng sóng dội vào thành bờ nghe rào rào. Tiếng dòng sông náo động làm lòng ta cũng náo động”.

Trong từng trang nhật ký, Lê Quốc Văn ghi lại chi tiết, chân thật bằng giọng điệu giàu xúc cảm. Từ nỗi nhớ gia đình, bạn bè và người con gái cho anh những rung động đầu tiên, đến những bữa ăn tươi được cải thiện. Từ cảnh thiếu nước sinh hoạt, băng rừng vượt suối đến dịch bệnh sốt rét nghiệt ngã, sự hy sinh của đồng đội và mối căm thù chất ngất. Ngày 18/9, Lê Quốc Văn viết: “10 giờ đêm nhận được tin thằng Huấn - người bạn thân nhất hồi còn ở Tây Đô của mình đã hy sinh trong một trận đánh trả địch tập kích. Một cái tin vô cùng đau đớn và đột ngột đối với mình... Chiến tranh đã cướp đi một người bạn, một người đồng chí. Tao nguyện sẽ trả thù cho mày Huấn ạ!”.

Ngày 29/10, Văn rời thung lũng Lá Dâu về Pù Nót nhận nhiệm vụ mới với một tâm trạng phấn chấn, mơ mộng của tuổi trẻ: “Biết bao khu rừng mình đã qua, bao nhiêu đồi núi mình đã được đặt chân đến, mình đi như vậy sao giống những nhà địa chất quá, chỉ khác trong tay mình là cây súng chứ không phải là cây búa và cây bút!”. Bên cạnh những dòng nhật ký, Lê Quốc Văn cũng làm thơ - những vần thơ của người lính làm nghĩa vụ quốc tế cao cả: “Người lính gác xoa tay giết muỗi/ Mắt trừng muốn xé màn đêm/ Ánh trăng hắt xanh màu súng thép/ Đêm về khuya tiếng hạc ngang trời”.

Trong số hơn 30 trang nhật ký thì phần lớn Lê Quốc Văn viết nhiều về những chặng đường hành quân, trinh sát trên đất bạn giữa vùng rừng núi U-ral muôn vàn hiểm trở, khắc nghiệt. Song, vượt lên tất cả là tinh thần lạc quan, đầy trách nhiệm của người lính và nhiệt huyết dấn thân để cống hiến của tuổi trẻ. “Ngủ dậy viết thư cho chị Mai và Bích T., lòng sao thấy bâng khuâng với một cảm giác khó tả. Mấy hôm nay mình muốn bệnh nhưng vẫn cứ làm ra vẻ khỏe mạnh” (ngày 15/10). “Hôm nay xe đến đón đi công tác gồm 4 xe GMC và 1 xe của thủ trưởng. Đội hình ra thị xã khoảng hơn 10 cây số thì xe rẽ xuống đường mòn ăn sâu vào núi. Vì trời mưa quá lớn nên nước các con suối dâng lên một cách đáng sợ. Những chiếc xe bò lết một cách nặng nhọc trong con đường rừng. Lâu lâu xe lại lội qua những đoạn ngập nước và qua lòng những con suối. Hai bên toàn là rừng. Thỉnh thoảng lại qua một phum cũ của người Campuchia. Ôi, sao mình thấy mỗi khi vào chiến dịch mới. Ai ai cũng náo nức. Ai cũng muốn đi trọn cả cao điểm của chiến dịch mừng công này” (ngày 17/10).

Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên là trang đầu tiên và cuối cùng của quyển nhật ký đều đúng thứ bảy và ngày 8, nghĩa là vừa tròn 3 tháng. Ngày 9/12/1984, trên đường truy quét địch, Lê Quốc Văn bị vướng mìn được chuyển về cứ. Ba giờ sáng ngày 10/12/1984, chiến sĩ trinh sát Lê Quốc Văn vĩnh viễn ra đi.

Ông Lê An Ninh bùi ngùi kể: “Tôi nhận được tin do một người đồng đội của Văn gửi thư cho hay. Đau xót lắm nhưng tôi nghĩ khoan hãy báo cho mẹ tôi biết vì bà lớn tuổi, với lại bà có hai người con hy sinh rồi, giờ đến thằng cháu này nữa. Ngay cả vợ con tôi cũng giấu”. Nhưng sự thật không thể giấu mãi được. Đến một ngày, tin con trai Lê Quốc Văn hy sinh đến với người mẹ Trần Thị Kim Loan lúc bà đang cấy lúa trên cánh đồng thử nghiệm. Bà chạy về nhà rồi lao vào giường nằm khóc. Bà cứ ân hận vì chưa cho con được cái gì. Ngay cả ước mơ của Văn có cây đàn ghi-ta nhưng chưa gửi được.

Hơn ba mươi năm kể từ ngày Lê Quốc Văn hy sinh bằng sự quả cảm của người lính, nhiệt huyết của tuổi trẻ và trách nhiệm với non sông, trong ký ức của những anh chị làm chung Viện lúa năm nào vẫn nhớ mãi hình ảnh một người con trai mới lớn đẹp và hiền, vui tính, thích thơ nhạc. Như cảm xúc của anh Dương Ngọc Sáng, cán bộ Viện lúa: “Tuy sống với Văn khoảng tám tháng nhưng tôi rất quý em. Đó là một đứa tài hoa, đẹp cả vóc dáng lẫn tâm hồn. Tuy cuộc sống thiếu thốn như em vẫn lạc quan, đặc biệt là biết quan tâm, chăm lo cho gia đình và những người xung quanh. Văn mất tôi vừa tiếc vừa thương và cũng tự hào vì em đã sống xứng đáng với gia đình và Tổ quốc này”.

Nếu ai đã đọc những trang nhật ký đậm tính chân thật của các thế hệ thanh niên tài hoa ra trận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước sẽ không khỏi xúc động, bởi ở đó không chỉ có tinh thần chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng hy sinh của người lính mà còn mang nét đẹp lãng mạn với bao hoài bão, khát khao của tuổi trẻ. Và “Bên dòng Mê-kông” - quyển nhật ký hiếm hoi viết ở chiến trường Campuchia của liệt sĩ Lê Quốc Văn cũng không ngoại lệ. Mỗi câu chữ trong nhật ký “Bên dòng Mê-kông” của anh như “có lửa”, như hiển hiện hình ảnh một thế hệ lên đường làm nghĩa vụ quốc tế cao cả với bầu nhiệt huyết cống hiến của tuổi trẻ. Hơn thế nữa, càng tự hào với một chân lý bất biến: “Máu chúng con đổ bên ngoài Tổ quốc/ Cho mai sau sông núi thở dịu dàng” (thơ Đoàn Tuấn).

HỒ KIÊN GIANG